Có được trợ cấp thất nghiệp nếu nghỉ không lương trước khi nghỉ việc?

Trợ cấp thất nghiệp là một khoản trợ cấp nhằm ổn định đời sống cho người lao động khi không may bị mất việc làm. Ngoài tham gia bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm y tế khi làm việc, người lao động nên đóng cả bảo hiểm thất nghiệp để được hưởng trợ cấp trong tình huống nghỉ việc. Thực tế có không ít trường hợp người lao động nghỉ không lương trước khi nghỉ việc, khi đó, người lao động có được hưởng trợ cấp thất nghiệp hay không? Bài viết dưới đây sẽ giúp làm rõ vấn đề trên.

1. Điều kiện nghỉ không lương

Theo Điều 116 Bộ luật Lao động năm 2012, người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong các 3 trường hợp sau:

– Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

– Con kết hôn: nghỉ 01 ngày;

– Trường hợp bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

Thêm vào đó, người lao động được nghỉ 01 ngày không hưởng lương và phải thông báo với người sử dụng lao động đối với: Ông nội, bà nội, bà ngoại, ông ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

Cũng theo quy định này, ngoài những ngày nghỉ cụ thể đã nêu trên, người lao động có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc xin nghỉ không lương. Việc nghỉ không lương trong thời hạn bao lâu hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của 2 bên.

2. Nghỉ không lương trước khi nghỉ việc có được trợ cấp thất nghiệp?

Căn cứ khoản 1, Điều 46 Luật Việc làm 2013, trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

Khi nghỉ việc, người lao động sẽ được nhận tiền trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng 3 điều kiện:

– Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng, trước khi nghỉ việc.

– Người lao động đã thực hiện nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm;

– Kể từ ngày nộp hồ sơ đến 15 ngày sau, người lao động vẫn chưa tìm được việc làm.

Đồng thời, khoản 2, Điều 12 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định:

Người lao động đang đóng BHTN là người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã đóng BHTN và được tổ chức BHXH xác nhận. Tháng liền kề bao gồm những khoảng thời gian sau:

– Người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH;

– Người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị.

Đối chiếu các quy định đã nêu, nếu người lao động nghỉ không hưởng lương trước khi nghỉ việc sẽ không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Cách phân biệt giữa phần mềm HTKK và iHTKK 

Hướng dẫn các cách khai thuế điện tử lần đầu cho DN

3. Phân biệt trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp mất việc làm

a. Về đối tượng chi trả

– Trợ cấp mất việc làm: Đơn vị chi trả là người sử dụng lao động.

– Trợ cấp thất nghiệp: Cơ quan bảo hiểm xã hội.

b. Về tiền lương tính trợ cấp:

– Trợ cấp mất việc làm: Là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng trước khi người lao động bị mất việc làm.

– Trợ cấp thất nghiệp: Là tiền lương bình quân tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng gần nhất trước khi thất nghiệp.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *